Thị trường dệt may – Vinatex Mon, 13 Jul 2026 02:47:17 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=7.0.2 /wp-content/uploads/2025/08/VINATEX-26x26-1.png Thị trường dệt may – Vinatex 32 32 Hiệp há»™i dệt may Bangladesh kiến nghị gói há»— trợ khẩn cấp sau ngập lụt tại cảng Chattogram /hiep-hoi-det-may-bangladesh-kien-nghi-goi-ho-tro-khan-cap-sau-ngap-lut-tai-cang-chattogram/ Mon, 13 Jul 2026 02:47:17 +0000 /?p=29078 Ngập lụt nghiêm trọng tại cảng Chattogram Ä‘ang gây gián Ä‘oạn chuá»—i cung ứng và hoạt động xuất khẩu cá»§a Bangladesh. Trước nguy cÆ¡ gia tăng chi phí logistics, chậm giao hàng và mất uy tín vá»›i các nhà mua hàng quốc tế, các hiệp há»™i dệt may và doanh nghiệp nước này đã đồng loạt đề nghị Chính phá»§ triển khai gói há»— trợ khẩn cấp nhằm ổn định sản xuất và bảo đảm năng lá»±c xuất khẩu.

Picture1

Các hiệp hội doanh nghiệp hàng đầu Bangladesh đã kiến nghị Chính phủ sớm ban hành gói hỗ trợ khẩn cấp nhằm giảm thiểu tác động của tình trạng ngập lụt kéo dài tại cảng Chattogram đối với hoạt động sản xuất và xuất khẩu. Trong thư gửi Bộ trưởng Giao thông Vận tải và Cầu đường Sheikh Rabiul Alam, các hiệp hội gồm BGMEA, BKMEA, BTMA và CCCI đề nghị khẩn trương khôi phục kết nối đường bộ, đường sắt tới cảng, đồng thời miễn hoặc giảm các loại phí cảng, lưu container, lưu bãi, hỗ trợ tín dụng ưu đãi và đẩy nhanh thông quan.

Theo các hiệp hội, mưa lớn từ ngày 5/7 đã gây ngập nghiêm trọng tại nhiều bãi container và kho bãi quanh cảng, làm gián đoạn hoạt động bốc dỡ, lưu kho và vận chuyển hàng hóa. Các nguyên liệu nhập khẩu như bông, sợi, vải, hóa chất, vật liệu đóng gói cùng nhiều mặt hàng thực phẩm đối mặt nguy cơ suy giảm chất lượng, trong khi các ngành xuất khẩu chủ lực như may mặc, dệt may gia dụng, da giày, dược phẩm và thủy sản đông lạnh bị chậm giao hàng, hủy đơn và có thể chịu phạt hợp đồng.

Các hiệp hội cảnh báo tình trạng kéo dài sẽ ảnh hưởng tới uy tín của Bangladesh với các nhà mua hàng quốc tế, đồng thời làm gia tăng áp lực tài chính do chi phí lưu bãi, lưu container và vận tải. Ngoài các giải pháp trước mắt, cộng đồng doanh nghiệp cũng đề xuất xây dựng hạ tầng cảng thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cấp hệ thống thoát nước, mở rộng năng lực kho bãi và xây dựng Khung bảo đảm liên tục thương mại quốc gia nhằm duy trì hoạt động xuất nhập khẩu trong các tình huống thiên tai tương lai.

Nguồn: Textile today

www.textiletoday.com.bd

]]>
Đàm phán thương mại Ấn Độ – Mỹ tiếp tục trì hoãn do bất đồng thuế quan và các cuộc điều tra theo Điều 301 /dam-phan-thuong-mai-an-do-my-tiep-tuc-tri-hoan-do-bat-dong-thue-quan-va-cac-cuoc-dieu-tra-theo-dieu-301/ Tue, 30 Jun 2026 07:08:54 +0000 /?p=28951 Những khác biệt liên quan đến nông nghiệp, dầu mỏ Nga, chính sách thuế quan của Mỹ và các cuộc điều tra theo Điều 301 tiếp tục khiến tiến trình đàm phán Hiệp định Thương mại Song phương (BTA) giữa Ấn Độ và Mỹ bị kéo dài.

Tvc 2026 06 30T103734.177 800x400 1

Tháng 2/2025, Ấn Độ và Mỹ công bố sẽ hướng tới xây dựng một Hiệp định Thương mại Song phương toàn diện, với mục tiêu ban đầu hoàn tất vào mùa thu năm 2025. Đến tháng 2/2026, hai nước tiếp tục ký kết khuôn khổ cho một thỏa thuận thương mại tạm thời, dự kiến được triển khai trong giai đoạn tháng 4–5/2026. Tuy nhiên, đến nay cả hai thỏa thuận vẫn chưa được hoàn tất.

Sau tuyên bố chung của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Tổng thống Mỹ Donald Trump vào tháng 2/2025, hai bên nhận thấy việc hoàn tất một hiệp định thương mại toàn diện cần thêm thời gian đàm phán. Ban đầu, các cơ quan chức năng của hai nước tập trung vào mục tiêu hoàn thành giai đoạn đầu của thỏa thuận trong mùa thu năm 2025, tức từ tháng 9 đến tháng 11/2025.

Đàm phán được đẩy nhanh sau tháng 4/2025, khi Mỹ công bố chính sách thuế quan đối ứng trong khuôn khổ sáng kiến “Ngày Giải phóng”, trước khi tạm hoãn áp dụng trong 90 ngày để tạo điều kiện cho thương lượng thương mại. Tuy vậy, các bất đồng vẫn kéo dài, đặc biệt liên quan đến việc Ấn Độ không muốn mở cửa sâu hơn thị trường nông nghiệp và sữa, cũng như quyết định tiếp tục mua dầu từ Nga. Đây là những nguyên nhân khiến giai đoạn đầu của thỏa thuận không thể hoàn tất đúng kế hoạch.

Cuối tháng 7 và đầu tháng 8, Tổng thống Trump công bố tăng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Ấn Độ, trước hết lên 25% và sau đó lên 50%. Mức thuế cao hơn được cho là nhằm phản ứng với việc Ấn Độ tiếp tục nhập khẩu dầu từ Nga. Những diễn biến này khiến đàm phán tạm thời bị gián đoạn, trước khi hai bên nối lại thảo luận vào tháng 10.

Tháng 2/2026, Ấn Độ và Mỹ đạt được khuôn khổ cho một thỏa thuận thương mại tạm thời. Khuôn khổ này chủ yếu xác định cấu trúc cho một thỏa thuận trong tương lai, chưa phải là một hiệp định thương mại hoàn chỉnh. Khi đó, Bộ trưởng Thương mại Ấn Độ Piyush Goyal bày tỏ tin tưởng rằng thỏa thuận có thể được hoàn tất vào tháng 4 hoặc chậm nhất là đầu tháng 5/2026.

Theo khuôn khổ được đề xuất, mức thuế tổng thể áp dụng đối với hàng hóa Ấn Độ nhập khẩu vào Mỹ sẽ được giảm xuống 18%, qua đó cải thiện vị thế thuế quan của Ấn Độ so với các quốc gia cạnh tranh. Hai bên cũng thống nhất dành cho nhau quyền tiếp cận thị trường ưu đãi trong các lĩnh vực cùng quan tâm.

Các diễn biến tiếp theo tại Mỹ tiếp tục làm gia tăng bất định đối với tiến trình đàm phán. Tòa án Tối cao Mỹ đã vô hiệu hóa hệ thống thuế quan đối ứng, cho rằng Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) không trao thẩm quyền áp dụng các mức thuế này, qua đó loại bỏ một trong các cơ sở pháp lý của biện pháp thuế quan đối ứng.

Sau phán quyết trên, Tổng thống Trump công bố kế hoạch áp dụng mức thuế bổ sung đồng loạt 10% đối với hàng nhập khẩu từ tất cả các quốc gia theo Điều 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, nhằm xử lý thâm hụt thương mại của Mỹ. Ban đầu, biện pháp này được mô tả là áp dụng tạm thời trong 150 ngày, đến ngày 24/7, sau đó được điều chỉnh lên 15%; tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế đã không diễn ra.

Bất định tiếp tục gia tăng khi Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) khởi xướng hai cuộc điều tra theo Điều 301. Cuộc điều tra thứ nhất áp dụng đối với 16 nền kinh tế, trong đó có Ấn Độ, nhằm xác định liệu tình trạng dư thừa công suất sản xuất có đang được sử dụng để gia tăng xuất khẩu sang Mỹ theo cách gây ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp của Mỹ hay không. Cuộc điều tra thứ hai áp dụng đối với 60 quốc gia, trong đó có Ấn Độ, nhằm đánh giá liệu các nước này đã có biện pháp đầy đủ để ngăn chặn hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức hay chưa, cũng như tác động của các hàng hóa này đối với người lao động và doanh nghiệp Mỹ.

Chính phủ Mỹ đã áp dụng mức thuế nhập khẩu 12,5% đối với hàng hóa từ 54 quốc gia, bao gồm Ấn Độ, với lý do các quốc gia này chưa thực hiện những biện pháp hạn chế hiệu quả đối với hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Biện pháp này không đồng nghĩa với việc Mỹ kết luận Ấn Độ sử dụng lao động cưỡng bức, nhưng cho thấy Mỹ cho rằng việc kiểm soát hàng hóa có yếu tố lao động cưỡng bức chưa đủ hiệu quả. Ấn Độ đã có ý kiến phản hồi với phía Mỹ về vấn đề này; phiên điều trần cuối cùng dự kiến diễn ra vào ngày 7/7. Kết quả điều tra về tình trạng dư thừa công suất được dự kiến công bố vào giữa tháng 7.

Ấn Độ tiếp tục khẳng định cam kết hoàn tất thỏa thuận thương mại với Mỹ, đồng thời nhấn mạnh nước này cần được hưởng lợi thế tương đối so với các đối thủ cạnh tranh, phù hợp với những nội dung đã thống nhất trong các cuộc thảo luận tháng 2. Trước khi có thể hoàn tất thỏa thuận, các kết quả điều tra theo Điều 301 cũng như các quyết định liên quan đến thuế quan cần được làm rõ.

Trong khi đó, hai nước vẫn tiếp tục đàm phán các nội dung phi thuế quan của thỏa thuận, bao gồm mở rộng tiếp cận thị trường, thương mại số, nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, cắt giảm các rào cản phi thuế quan và tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực chiến lược. Chuyến thăm Ấn Độ của Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer trong hai ngày 23–24/6 vừa qua chưa đưa ra mốc thời gian cụ thể để hoàn tất thỏa thuận.

Nguồn: https://textilevaluechain.in/india-us-trade-deal-delayed-as-tariff-disputes-and-investigations-extend-negotiations

]]>
EU phát hiện tình trạng ghi sai nhãn thành phần sợi trên quần áo mang tính hệ thống /eu-phat-hien-tinh-trang-ghi-sai-nhan-thanh-phan-soi-tren-quan-ao-mang-tinh-he-thong/ Wed, 24 Jun 2026 02:09:36 +0000 /?p=28901 EU flag scaled 1 1536x1024 1
Ảnh minh họa

Một chiến dịch kiểm tra tại Liên minh châu Âu (EU) cho thấy tình trạng ghi nhãn không chính xác về thành phần nguyên liệu trên sản phẩm may mặc đang diễn ra khá phổ biến. Trong tổng số 132 mẫu quần áo được kiểm nghiệm, có 49 mẫu, tương đương 37%, có thông tin trên nhãn không phù hợp với thành phần thực tế.

Các mẫu được kiểm tra gồm áo, quần áo trẻ em, trang phục thể thao, đồ ngủ, khăn quàng và một số nhóm sản phẩm khác, sử dụng len, bông và các loại sợi pha. Ba dạng vi phạm chủ yếu được phát hiện gồm: tỷ lệ các loại sợi ghi trên nhãn không đúng với tỷ lệ thực tế; sản phẩm sử dụng loại sợi khác, rẻ hơn so với công bố; hoặc tên và loại sợi được ghi sai.

Tỷ lệ không đạt cao nhất thuộc về khăn quàng (80%), áo (54%) và quần áo trẻ em (25%). Đáng chú ý, các sản phẩm ghi là pha giữa sợi tự nhiên và sợi nhân tạo có tỷ lệ sai lệch tới 64%; trong khi nhóm sản phẩm ghi 100% một loại sợi tự nhiên có tỷ lệ không đạt là 15%.

Cơ quan giám sát thị trường của tám quốc gia EU đã mua 104 sản phẩm tại cửa hàng và 28 sản phẩm trực tuyến để kiểm nghiệm. Tỷ lệ vi phạm đối với hàng mua trực tuyến là 46%, cao hơn mức 36% của hàng mua tại cửa hàng vật lý. Nhiều sản phẩm, đặc biệt là hàng nhập khẩu từ ngoài EU/EFTA, cũng thiếu thông tin cơ bản về nhà sản xuất, gây khó khăn cho việc truy xuất, xử lý vi phạm hoặc thu hồi sản phẩm.

Sau kiểm tra, cơ quan chức năng đã yêu cầu dừng bán 18 sản phẩm; một số sản phẩm phải thực hiện biện pháp khắc phục, ghi nhãn lại hoặc bổ sung cảnh báo phù hợp. EU cho rằng việc ghi nhãn sai không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu dùng và làm méo mó cạnh tranh, mà còn cản trở hoạt động phân loại, tái chế dệt may do không xác định chính xác được thành phần sợi.

Nguồn: Ủy ban châu Âu

]]>
Mỹ và Iran thống nhất lộ trình đàm phán, hướng tới thỏa thuận trong 60 ngày /my-va-iran-thong-nhat-lo-trinh-dam-phan-huong-toi-thoa-thuan-trong-60-ngay/ Mon, 22 Jun 2026 09:37:22 +0000 /?p=28895 Ngày 21/6/2026, Mỹ và Iran đã đạt được tiến triển đáng kể trong vòng đàm phán diễn ra tại Thụy Sĩ, thống nhất lộ trình hướng tới một thỏa thuận cuối cùng trong vòng 60 ngày tới.

108324531 1782035689639 gettyimages 2282083911 AFP B7RL9PB

Theo tuyên bố chung của các bên trung gian, Mỹ và Iran sẽ thành lập Ủy ban Cấp cao (High Level Committee) để giám sát tiến trình đàm phán, đồng thời triển khai các nhóm công tác về hạt nhân, trừng phạt kinh tế và giải quyết tranh chấp. Các cuộc đàm phán kỹ thuật sẽ tiếp tục được tổ chức trong những tuần tới, với mục tiêu hoàn tất thỏa thuận trước cuối tháng 8/2026.

Các bên cũng thống nhất thiết lập cơ chế phối hợp nhằm chấm dứt các hoạt động quân sự tại Lebanon và duy trì hoạt động thông suốt của Eo biển Hormuz trong ít nhất 60 ngày theo các cam kết đã đạt được trước đó.

Theo phía Iran, các nội dung đạt được bao gồm việc nới lỏng một số hạn chế đối với xuất khẩu dầu mỏ và hóa dầu, giải phóng một phần tài sản bị đóng băng và thúc đẩy các chương trình tái thiết kinh tế.

Thông tin tích cá»±c từ đàm phán Mỹ – Iran góp phần giảm bá»›t lo ngại về nguy cÆ¡ gián Ä‘oạn nguồn cung dầu khí và vận tải biển qua khu vá»±c Trung Đông. Trong phiên giao dịch gần nhất, giá dầu thế giá»›i đã giảm hÆ¡n 4% khi thị trường kỳ vọng căng thẳng khu vá»±c sẽ tiếp tục hạ nhiệt.

Đối với doanh nghiệp Dệt May Việt Nam, diễn biến này có thể hỗ trợ ổn định chi phí nhiên liệu, vận tải biển và nguyên phụ liệu nhập khẩu trong ngắn hạn. Tuy nhiên, thị trường vẫn sẽ theo dõi sát tiến độ đàm phán trong 60 ngày tới và tình hình thực tế tại Lebanon để đánh giá tính bền vững của thỏa thuận.

Nguồn: CNBC

]]>
Thuế quan và địa chính trị tái định hình chuỗi cung ứng thời trang toàn cầu /thue-quan-va-dia-chinh-tri-tai-dinh-hinh-chuoi-cung-ung-thoi-trang-toan-cau/ Mon, 22 Jun 2026 08:03:38 +0000 /?p=28774 Nghe tóm tắt nội dung bài viết:

 

Ngành thời trang Mỹ đang chịu tác động đồng thời từ thuế quan, lạm phát và bất ổn địa chính trị, buộc các doanh nghiệp phải tăng cường kiểm soát chi phí, điều chỉnh giá bán và tái cơ cấu chuỗi cung ứng nhằm bảo vệ lợi nhuận. Xu hướng giảm phụ thuộc vào Trung Quốc tiếp tục được đẩy mạnh, trong khi Việt Nam, Bangladesh và Ấn Độ ngày càng khẳng định vai trò trong chuỗi cung ứng hàng may mặc toàn cầu. Nhiều doanh nghiệp thời trang Mỹ vẫn duy trì hoặc mở rộng một phần sourcing (tìm nguồn cung ứng) tại Mexico và Trung Mỹ để tăng tính linh hoạt và khả năng ứng phó rủi ro.

Bài viết phân tích những thay đổi nổi bật trong chiến lược sourcing của các thương hiệu thời trang Mỹ, qua đó cho thấy quá trình tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ.

162f595a599515c81403de2c4ec3f870fdf428e5768cac 1yoijz scaled

Môi trường kinh doanh ngành thời trang Mỹ tiếp tục nhiều bất ổn

Bước sang năm 2026, môi trường kinh doanh của ngành thời trang Mỹ đang chịu tác động đồng thời từ lạm phát, lãi suất cao, bất ổn thương mại và tâm lý tiêu dùng thận trọng hơn. Theo báo cáo tháng 4/2026 của Giáo sư Sheng Lu, Đại học Delaware (Mỹ), phần lớn các doanh nghiệp thời trang Mỹ đều cho rằng nhu cầu tiêu dùng đang có xu hướng phân hóa rõ nét giữa các nhóm thu nhập, trong đó nhóm khách hàng trung lưu và thu nhập thấp tiếp tục chịu áp lực lớn từ chi phí sinh hoạt và lãi suất duy trì ở mức cao.

Picture2

Dữ liệu kinh tế Mỹ cho thấy, áp lực lạm phát đang trên đà tăng trở lại. Chỉ số CPI tháng 4/2026 ở mức 3,8%, mức cao nhất kể từ tháng 5/2023 và tăng thêm 0,5 điểm phần trăm so với tháng trước. Trong khi đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5–3,75% trong cuộc họp đầu tháng 5/2026 và chưa phát tín hiệu nới lỏng chính sách tiền tệ trong ngắn hạn. Mặc dù doanh số bán lẻ tháng 4/2026 vẫn tăng 4,9% so với cùng kỳ, nhiều doanh nghiệp cho rằng người tiêu dùng đang trở nên “thận trọng và chọn lọc hơn” trong chi tiêu đối với các mặt hàng không thiết yếu.

Theo Kohl’s, nhóm khách hàng cốt lõi thuộc phân khúc thu nhập thấp và trung bình “vẫn chịu áp lực tài chính và ưu tiên yếu tố giá trị”. Macy’s cũng cho rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô, địa chính trị và chính sách thương mại đang làm gia tăng tính bất định đối với chi tiêu tiêu dùng trong thời gian tới. Trong khi đó, Carter’s nhận định thuế quan vẫn là yếu tố chi phối tâm lý thị trường và khiến việc dự báo kinh doanh trở nên khó khăn hơn.

Ngoài yếu tố tiêu dùng, chính sách thương mại của Mỹ vẫn là một trong những biến số lớn nhất đối với ngành thời trang toàn cầu. Các doanh nghiệp cho rằng mức độ bất định liên quan đến thuế quan và thương mại quốc tế có thể còn kéo dài ít nhất đến nửa cuối năm 2026, buộc các thương hiệu phải duy trì chiến lược sourcing linh hoạt và đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

Thuế quan tiếp tục gây áp lực lên biên lợi nhuận doanh nghiệp

Theo phân tích của Sheng Lu dựa trên các báo cáo kết quả kinh doanh của khoảng 30 doanh nghiệp thời trang lớn tại Mỹ, thuế quan tiếp tục là một trong những yếu tố gây áp lực lớn nhất lên biên lợi nhuận của ngành trong năm tài chính 2025. Nhiều doanh nghiệp ghi nhận tác động từ thuế nhập khẩu đã làm giảm biên lợi nhuận gộp khoảng 0,2–4,6%.

Macy’s ước tính tác động từ thuế quan dự kiến làm giảm biên lợi nhuận gộp khoảng 0,2–0,3% trong năm 2026. GAP cho rằng thay đổi thuế suất toàn cầu trong năm 2025 đã ảnh hưởng đáng kể tới lợi nhuận, khiến biên lợi nhuận gộp và biên lợi nhuận hoạt động giảm khoảng 1,2% trong cả năm và khoảng 2% trong quý 4/2025. Trong khi đó, Abercrombie & Fitch ghi nhận khoảng 90 triệu USD chi phí liên quan đến thuế quan trong giá vốn hàng bán, kéo biên lợi nhuận hoạt động giảm khoảng 2,5% so với năm trước.

Picture3

Một số doanh nghiệp chịu áp lực lớn hơn đáng kể do mức độ phụ thuộc cao vào sourcing châu Á. Columbia Sportswear ghi nhận chi phí thuế quan chưa được giảm thiểu trong năm 2025 vượt 30 triệu USD, tương đương tác động khoảng 3–4% trong vòng hai năm. PVH – tập đoàn sở hữu Calvin Klein và Tommy Hilfiger – ước tính tổng chi phí thuế quan có thể lên tới khoảng 195 triệu USD trong năm 2026. Tuy nhiên, doanh nghiệp này cho hay đang triển khai nhiều giải pháp để giảm thiểu khoảng 60% tác động trong năm nay và hướng tới mức giảm thiểu hơn 75% vào cuối năm 2026.

Trước áp lực chi phí gia tăng, nhiều doanh nghiệp thời trang Mỹ đang triển khai đồng thời nhiều giải pháp như điều chỉnh giá bán, tối ưu cơ cấu sản phẩm, cắt giảm các dòng hàng kém hiệu quả, đàm phán lại với nhà cung cấp và dịch chuyển sourcing sang các quốc gia có chi phí cạnh tranh hơn. Một số doanh nghiệp cũng đẩy mạnh chiến lược full-price selling (bán hàng nguyên giá), hạn chế khuyến mại nhằm bảo vệ biên lợi nhuận.

Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là phần lớn doanh nghiệp đều cho rằng, môi trường thương mại hiện nay vẫn rất khó dự báo do chính sách thuế quan của Mỹ liên tục thay đổi. Điều này khiến các thương hiệu buộc phải duy trì mức tồn kho thận trọng hơn, đồng thời nâng cao tính linh hoạt trong quản trị chuỗi cung ứng và kế hoạch sourcing toàn cầu.

Các thương hiệu thời trang Mỹ tăng giá bán có chọn lọc

Bên cạnh tối ưu sourcing và kiểm soát chi phí, tăng giá bán đang trở thành một trong những giải pháp phổ biến được các thương hiệu thời trang Mỹ áp dụng để bù đắp tác động từ thuế quan. Tuy nhiên, thay vì tăng giá đại trà, phần lớn doanh nghiệp lựa chọn chiến lược tăng giá có chọn lọc đối với các dòng sản phẩm thời trang, sản phẩm mới hoặc phân khúc premium nhằm hạn chế tác động tiêu cực tới nhu cầu tiêu dùng.

Columbia Sportswear cho hay, doanh nghiệp đã tăng giá tại thị trường Mỹ ở mức cao một chữ số cho các bộ sưu tập Spring và Fall 2026 nhằm bù đắp chi phí thuế quan. Levi’s cũng ghi nhận tác động từ thuế quan khiến biên lợi nhuận giảm khoảng 1,5%, tuy nhiên phần chi phí này đã được bù đắp đáng kể thông qua tăng giá bán, tối ưu chi phí sản phẩm và đẩy mạnh bán hàng nguyên giá. Theo doanh nghiệp này, người tiêu dùng hiện “chưa có phản ứng tiêu cực đáng kể” đối với các đợt điều chỉnh giá.

Picture4

Xu hướng hạn chế khuyến mại và gia tăng tỷ trọng bán hàng nguyên giá cũng được nhiều thương hiệu đẩy mạnh nhằm bảo vệ biên lợi nhuận. Victoria’s Secret đánh giá việc giảm các chương trình giảm giá đã giúp doanh nghiệp cải thiện đáng kể giá bán bình quân trên mỗi sản phẩm, qua đó hỗ trợ biên lợi nhuận của thương hiệu PINK. Oxford Industries cũng cho rằng, mức tăng giá khoảng 4–8% chủ yếu đến từ việc nâng cấp cơ cấu sản phẩm và tăng tỷ trọng các dòng sản phẩm mới có giá trị cao hơn.

Dù vậy, các doanh nghiệp vẫn duy trì sự thận trọng trong chính sách giá đối với các nhóm hàng cơ bản nhằm bảo vệ nhóm khách hàng nhạy cảm về giá. URBN cho hay doanh nghiệp vẫn ưu tiên duy trì mức giá khởi điểm đối với các sản phẩm cốt lõi và chỉ tăng giá ở những nhóm sản phẩm mà “giá trị sản phẩm đủ mạnh để người tiêu dùng chấp nhận”.

Xu hướng này cho thấy, ngành thời trang Mỹ đang bước vào giai đoạn cạnh tranh mới, trong đó khả năng xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm và quản trị giá bán ngày càng đóng vai trò quan trọng nhằm bù đắp áp lực chi phí và duy trì lợi nhuận.

Xu hướng dịch chuyển sourcing toàn cầu tiếp tục gia tăng

Dưới tác động của thuế quan, địa chính trị và áp lực đa dạng hóa chuỗi cung ứng, xu hướng dịch chuyển sourcing toàn cầu của các thương hiệu thời trang Mỹ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong năm 2026. Theo Sheng Lu, bốn xu hướng nổi bật hiện nay gồm: giảm phụ thuộc vào Trung Quốc; gia tăng sourcing từ các quốc gia châu Á có chi phí cạnh tranh như Việt Nam, Bangladesh và Ấn Độ; mở rộng nearshoring (dịch chuyển sản xuất/tìm nguồn cung ứng sang các quốc gia gần thị trường tiêu thụ) sang Mexico và Trung Mỹ; đồng thời theo dõi chặt chẽ các hiệp định thương mại mới có liên quan đến ngành dệt may.

Trung Quốc ngày càng đánh mất thị phần trong nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ. Dữ liệu thị phần nhập khẩu cho thấy, tỷ trọng hàng may mặc Trung Quốc trong nhập khẩu của Mỹ đã giảm mạnh từ khoảng 22% đầu năm 2025 xuống còn khoảng 9% vào tháng 3/2026. Ngược lại, Việt Nam giữ vững vị thế là một trong những nguồn cung lớn nhất của thị trường Mỹ với thị phần dao động quanh mức 21–24% trong năm 2025–2026.

Picture5

Bên cạnh Việt Nam, Bangladesh và Ấn Độ ngày càng khẳng định vai trò như các trung tâm sourcing chi phí thấp của ngành thời trang toàn cầu. Dữ liệu xuất khẩu cho thấy, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang Mỹ năm 2025 đạt khoảng 17,9 tỷ USD, tăng 10,7% so với năm trước. Trong khi đó, Bangladesh đạt khoảng 7,5 tỷ USD, tăng 4,7%. Trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang Mỹ tiếp tục tăng 3%, trong khi Bangladesh tăng 2,7%.

Nhiều doanh nghiệp nhận định, quá trình dịch chuyển sourcing khỏi Trung Quốc đã được triển khai trong nhiều năm và sẽ còn kéo dài trong thời gian tới. Oxford Industries cho biết tỷ trọng sourcing từ Trung Quốc đã giảm từ khoảng 40% xuống còn khoảng 15% tính đến đầu năm tài chính 2026. Abercrombie & Fitch hiện sourcing từ hơn 16 quốc gia khác nhau nhằm nâng cao tính linh hoạt của chuỗi cung ứng.

Ngoài châu Á, nhiều thương hiệu thời trang Mỹ cũng tiếp tục duy trì và mở rộng một phần sourcing tại Mexico và khu vực Trung Mỹ nhằm rút ngắn lead time (thời gian từ đặt hàng đến giao hàng), nâng cao khả năng phản ứng nhanh với thị trường và giảm rủi ro logistics. Dù thị phần nhập khẩu hàng may mặc của khu vực USMCA và CAFTA chưa biến động mạnh trong giai đoạn 2025–2026, xu hướng nearshoring vẫn được các doanh nghiệp xem là một lựa chọn chiến lược nhằm bổ sung cho mạng lưới sourcing toàn cầu trong bối cảnh bất ổn thương mại và địa chính trị gia tăng.

Địa chính trị và logistics trở thành yếu tố chiến lược

Bên cạnh thuế quan, địa chính trị đang ngày càng trở thành một yếu tố có ảnh hưởng lớn tới hoạt động sourcing và logistics của ngành thời trang toàn cầu. Xung đột tại Trung Đông cùng những bất ổn trên các tuyến vận tải quốc tế khiến nhiều doanh nghiệp phải nâng mức cảnh giác đối với rủi ro chuỗi cung ứng trong năm 2026.

Nike ghi nhận má»™t số gián Ä‘oạn trong hoạt động vận tải liên quan đến tình hình Trung Đông trong quý gần nhất. Victoria’s Secret đánh giá má»™t số lô hàng tá»›i Bắc Mỹ Ä‘ang bị chậm tiến độ do tình trạng bất ổn logistics, dù tác động hiện chưa ở mức nghiêm trọng. Trong khi đó, PVH đánh giá xung đột địa chính trị và biến động thương mại toàn cầu tiếp tục là những yếu tố bất định lá»›n đối vá»›i hoạt động kinh doanh trong thời gian tá»›i.

Picture6

Picture7

Dữ liệu từ Drewry World Container Index cho thấy, chi phí vận tải container toàn cầu đang có xu hướng tăng trở lại trong thời gian gần đây. Tính đến 28/5/2026, chỉ số WCI Composite Index đã tăng lên khoảng 2.800 USD/container 40 feet. Giá cước trên các tuyến vận tải từ Thượng Hải tới Los Angeles và New York cũng tăng đáng kể so với đầu năm, phản ánh áp lực logistics vẫn hiện hữu đối với chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, “khả năng thích ứng” đang trở thành ưu tiên hàng đầu của nhiều doanh nghiệp thời trang Mỹ. Thay vì tối ưu chi phí đơn thuần, các thương hiệu ngày càng ưu tiên xây dựng chuỗi cung ứng linh hoạt hơn thông qua đa dạng hóa sourcing, mở rộng nearshoring, tối ưu tồn kho và nâng cao khả năng phản ứng trước các cú sốc địa chính trị và thương mại toàn cầu.

Nhìn chung, các xu hướng trên cho thấy chuỗi cung ứng thời trang toàn cầu đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu rộng dưới tác động của thuế quan, địa chính trị và yêu cầu quản trị rủi ro ngày càng cao. Đối với Việt Nam, đây là cơ hội để gia tăng khả năng thu hút và mở rộng thị phần trong làn sóng đa dạng hóa nguồn cung của các thương hiệu quốc tế. Tuy nhiên, để đón đầu xu hướng dịch chuyển đơn hàng, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần nâng cao tính chủ động trong chuỗi cung ứng, tăng khả năng đáp ứng đơn hàng nhanh, ổn định và linh hoạt hơn trước những biến động của thị trường toàn cầu.

 

Bài viết được đăng trên Đặc san Dệt May và Thời trang số tháng 6/2026. Chi tiết tại đây!

]]>
Làn sóng đóng cửa và bài toán sinh tồn của thời trang Việt /lan-song-dong-cua-va-bai-toan-sinh-ton-cua-thoi-trang-viet/ Mon, 22 Jun 2026 02:08:12 +0000 /?p=28825 Những ngày đầu năm 2026, thị trường chứng kiến hàng loạt thương hiệu thời trang nội địa tuyên bố dừng hoạt động. Từ những cái tên từng được xem là “local brand thế hệ đầu” đến các thương hiệu lâu năm của phái nữ như Her25, L.II.N Clothing, Mary Jane,… sự rút lui diễn ra không ồn ào nhưng đủ để đặt ra một câu hỏi lớn: Điều gì đang thực sự xảy ra với thời trang Việt? Đây không còn là câu chuyện của vài doanh nghiệp đơn lẻ mà phản ánh một giai đoạn chuyển động của toàn ngành: những lợi thế cũ không còn đủ sức bảo vệ thương hiệu trước sức ép mới của thị trường.

photo 5 15942979177041584907375

Khi lợi thế “local brand” không còn là tấm khiên

Giai Ä‘oạn 2015–2022, Việt Nam chứng kiến sá»± bùng nổ cá»§a các thương hiệu thời trang ná»™i địa. Tinh thần á»§ng há»™ hàng Việt, thiết kế gần gÅ©i vá»›i giá»›i trẻ và khả năng nắm bắt xu hướng từng tạo nên làn sóng mạnh mẽ. Nhưng thị trường 2026 đã khác. Người tiêu dùng không còn mua sản phẩm chỉ vì đó là “hàng Việt”. Họ mua vì giá trị nhận được: chất lượng, thiết kế, câu chuyện thương hiệu, trải nghiệm số, tốc độ giao hàng, dịch vụ hậu mãi… Nếu thương hiệu không liên tục tái định vị, lợi thế cảm tính sẽ nhanh chóng biến mất.

Bài học đầu tiên: bản sắc phải đi cùng năng lực vận hành. Tình yêu thương hiệu không thể thay thế cấu trúc chi phí hợp lý, chuỗi cung ứng linh hoạt và hệ thống dữ liệu khách hàng bài bản.

photo 10 16789761025641607657368

Mô hình cửa hàng truyền thống đang bộc lộ giới hạn

Nhiều thương hiệu nội địa phát triển theo mô hình mở rộng mặt bằng nhanh chóng. Trong giai đoạn tăng trưởng nóng, việc sở hữu cửa hàng tại vị trí đắc địa là biểu tượng thành công. Nhưng khi sức mua chững lại, chi phí thuê mặt bằng, nhân sự và tồn kho trở thành gánh nặng cố định. Trong khi đó, người tiêu dùng chuyển dịch mạnh sang mua sắm online, săn ưu đãi, so sánh giá trong vài giây. Những thương hiệu chậm tái cấu trúc theo hướng đa kênh hoặc tinh gọn hệ thống bán lẻ buộc phải trả giá.

Bài học thứ hai: quy mô không đồng nghĩa với sức mạnh nếu thiếu hiệu quả. Thay vì mở rộng nhanh, thương hiệu cần xây dựng mô hình linh hoạt – cửa hàng trải nghiệm nhỏ gọn, kết hợp thương mại điện tử và hệ thống dữ liệu khách hàng tích hợp.

photo 4 1594297917696514273473

Sức ép cạnh tranh toàn cầu không còn là nguy cơ, mà là thực tế

Sự hiện diện ngày càng dày đặc của các thương hiệu thời trang quốc tế tại Việt Nam khiến phân khúc trung cấp trở nên cực kỳ chật chội. Với lợi thế chuỗi cung ứng quy mô lớn, ngân sách marketing mạnh và công nghệ phân tích dữ liệu tiên tiến, họ đang tạo ra cuộc chơi mới về tốc độ và giá. Thực tế này buộc thương hiệu nội địa phải lựa chọn: hoặc cạnh tranh trực diện bằng quy mô (rất khó), hoặc tìm một “ngách” đủ sâu và đủ khác biệt để tồn tại.

Bài học thứ ba: đừng cố trở thành “phiên bản mini” của một ông lớn toàn cầu. Thương hiệu Việt cần khai thác lợi thế am hiểu văn hóa bản địa, khí hậu, hình thể người Việt và thị hiếu địa phương – những yếu tố mà thương hiệu ngoại khó cá nhân hóa sâu.

saostar li505tu3ru3hv19e

Vấn đề không chỉ là kinh tế, mà là chiến lược

Nhiều doanh nghiệp thường lý giải việc đóng cửa bằng lý do “sức mua giảm” hoặc “kinh tế khó khăn”. Tuy nhiên, thị trường khó không đồng nghĩa với tất cả cùng thất bại. Trong cùng bối cảnh, vẫn có thương hiệu tăng trưởng.

Điểm khác biệt nằm ở chiến lược:

  • Có thương hiệu coi mình là “nhà thiết kế sản phẩm”.
  • Có thương hiệu hiểu mình là “nhà quản trị dữ liệu khách hàng”.
  • Có thương hiệu vận hành như má»™t doanh nghiệp sản xuất tinh gọn.
  • Có thương hiệu đầu tư mạnh vào cá»™ng đồng và ná»™i dung số.

Bài học thứ tư: thời trang không chỉ là sáng tạo – mà là quản trị. Sự thiếu hụt năng lực quản trị tài chính, quản trị tồn kho, quản trị thương hiệu và quản trị nhân sự là điểm yếu âm thầm nhưng chí mạng.

photo 2 16522381473161197233202

Sự rút lui của một số thương hiệu thời trang Việt đầu năm 2026 có thể xem như một giai đoạn thanh lọc tất yếu. Khi thị trường thay đổi, số lượng thương hiệu giảm, chất lượng cạnh tranh sẽ tăng lên, đòi hỏi sự trưởng thành của các doanh nghiệp về quản trị, chiến lược và tư duy dài hạn.

Với các thương hiệu trong nước, đã đến lúc nhiều chiến lược cần được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc và thực chất hơn.

Thứ nhất, chuyển từ tư duy “chỉ bán sản phẩm” sang tư duy “chăm sóc khách hàng trọn đời”: dữ liệu, cá nhân hóa và xây dựng cộng đồng phải trở thành tài sản cốt lõi.

Thứ hai, tối ưu chuỗi cung ứng nội địa: Việt Nam có lợi thế sản xuất, nhưng nhiều thương hiệu lại chưa tận dụng tốt hệ sinh thái dệt may trong nước để giảm chi phí và tăng tốc độ ra mẫu mới.

Thứ ba, xây dựng năng lực thương hiệu dài hạn: thay vì chạy theo xu hướng ngắn hạn, doanh nghiệp cần đầu tư vào giá trị cốt lõi, thiết kế mang tính nhận diện và câu chuyện nhất quán.

Thứ tư, chuyên nghiệp hóa quản trị: đã đến lúc các thương hiệu nội địa phải hoạt động như một doanh nghiệp bài bản, có chiến lược 3–5 năm, kiểm soát tài chính chặt chẽ và sở hữu hệ thống đo lường hiệu quả rõ ràng.

Trong lịch sử phát triển của bất kỳ ngành nào, những giai đoạn thanh lọc thường là tiền đề cho một chu kỳ tăng trưởng mới, những thương hiệu hiểu mình, hiểu khách hàng và làm chủ năng lực vận hành sẽ trở thành doanh nghiệp dẫn dắt.

Bài viết được đăng trên Đặc san Dệt May và Thời trang số tháng 6/2026. Chi tiết tại đây!

]]>
Thị trường vá»›i Vinatex – Vinatex vá»›i thị trường (tháng 6/2026) /thi-truong-voi-vinatex-vinatex-voi-thi-truong-thang-6-2026/ Fri, 19 Jun 2026 02:33:14 +0000 /?p=28838 Toàn cảnh chính sách bông thế giá»›i tháng 6/2026

  • Mỹ triển khai “Great American Cotton Plan”, thúc đẩy phục hồi chuá»—i dệt may ná»™i địa

Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) ngày 01/06/2026 đã công bố chương trình “Great American Cotton Plan” nhằm thúc đẩy tiêu dùng bông Mỹ, hỗ trợ nông dân trồng bông và phục hồi chuỗi dệt may nội địa. Chương trình được xây dựng theo hướng liên kết từ nông nghiệp – nguyên liệu – kéo sợi – dệt may – tiêu dùng, với thông điệp nổi bật “Plant, not plastic” nhằm khuyến khích sử dụng sợi tự nhiên thay thế vật liệu tổng hợp có nguồn gốc dầu mỏ. Chương trình nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ các bang sản xuất bông lớn như Texas, Georgia, Arizona, Alabama cùng nhiều hiệp hội ngành bông, doanh nghiệp và nghị sĩ Quốc hội Mỹ.

Theo USDA, Mỹ hiện là nước sản xuất bông lớn thứ 4 thế giới và xuất khẩu lớn thứ 2 toàn cầu; ngành bông hỗ trợ hơn 125.000 việc làm và tạo ra trên 21 tỷ USD giá trị kinh tế mỗi năm. Tuy nhiên, số lượng nhà máy dệt may và nhà máy tách hạt bông (cotton gin) tại Mỹ đã giảm mạnh trong nhiều thập kỷ qua, trong khi Brazil đã vượt Mỹ trở thành nước xuất khẩu bông số 1 thế giới từ năm 2023.

Kế hoạch mới bao gồm nhiều biện pháp như: tăng hỗ trợ tín dụng và bảo hiểm nông nghiệp cho người trồng bông; hỗ trợ hiện đại hóa các nhà máy kéo sợi – dệt may; thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm cotton nội địa; mở rộng xúc tiến thương mại và ưu tiên sử dụng bông Mỹ trong chuỗi cung ứng. Đáng chú ý, Bangladesh được đề cập như một quốc gia có thể được giảm thuế đối với hàng may mặc sử dụng bông và nguyên liệu dệt may của Mỹ

Tác động & lưu ý:

  • Xu hướng ưu tiên bông Mỹ và sợi tá»± nhiên có thể tiếp tục gia tăng tại thị trường Mỹ thời gian tá»›i.
  • DN dệt may cần theo dõi khả năng xuất hiện các chính sách thương mại gắn vá»›i Ä‘iều kiện sá»­ dụng bông Mỹ hoặc ưu tiên chuá»—i cung ứng ná»™i địa Mỹ.
  • Các chính sách há»— trợ ngành bông Mỹ có thể ảnh hưởng tá»›i cạnh tranh nguyên liệu và giá bông quốc tế trong thời gian tá»›i.

Tham khảo thêm thông tin tại: https://www.usda.gov/sites/default/files/documents/cotton-plan.pdf

  • Ấn Độ miá»…n toàn bá»™ thuế nhập khẩu bông từ 01/6 – 31/10/2026

Ngày 30/5/2026, Bộ Tài chính Ấn Độ chính thức ban hành thông báo miễn thuế hải quan và Thuế phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp (AIDC) đối với toàn bộ bông nhập khẩu (mã tariff 5201). Mức thuế được miễn là 11% – vốn được coi là rào cản lớn với ngành Dệt May Ấn Độ. Chính sách có hiệu lực trong 5 tháng liên tiếp (01/6 – 31/10/2026).

Nguyên nhân: Do nguồn cung bông trong nước thắt chặt, giá bông Ấn Độ neo ở mức cao.

Tác động đến sợi Việt Nam: Nhà máy sợi Ấn Độ giảm chi phí nguyên liệu bông nhập khẩu 11% sẽ kéo mặt bằng giá bông trong nước về mức thấp hơn. Điều này sẽ làm tăng sức ép cạnh tranh trực tiếp với sợi xuất khẩu của Việt Nam tại các thị trường Trung Quốc, Bangladesh, Thổ Nhĩ Kỳ.

  • Trung Quốc gia hạn giá há»— trợ mục tiêu bông Tân Cương 18.600 NDT/tấn cho giai Ä‘oạn 2026–2028

Ngày 26/5/2026, Trung Quốc công bố gia hạn chính sách giá hỗ trợ mục tiêu đối với bông Tân Cương cho chu kỳ 2026–2028, tiếp tục duy trì mức giá 18.600 NDT/tấn (~2.740 USD/tấn). Đây là chu kỳ thứ tư liên tiếp giữ nguyên mức giá này kể từ năm 2017.

Nội dung chính sách: Nhà nước bù phần chênh lệch giữa giá thị trường và giá mục tiêu 18.600 NDT/tấn cho nông dân Tân Cương. Vùng Tân Cương chiếm ~80–90% tổng sản lượng bông Trung Quốc và ~20% sản lượng bông toàn cầu. Giá bông trong nước TQ hiện tại (3128B Index): ~17.637 NDT/tấn – thấp hơn giá mục tiêu, tức nhà nước đang bù lỗ cho nông dân.

Song song với chính sách giá, Tân Cương đặt mục tiêu kéo sợi 45–50% sản lượng bông ngay tại địa phương đến năm 2028 (Kế hoạch phát triển ngành Dệt May Tân Cương 2026–2035) khiến năng lực sản xuất sợi nội địa Trung Quốc tăng mạnh. Điều này cũng gây áp lực cạnh tranh với sợi xuất khẩu Việt Nam.

Lưu ý:

  • Tranh thá»§ thị trường bình ổn để chốt mua nguyên liệu: Thị trường Ä‘ang trong giai Ä‘oạn “tiêu hóa thông tin” sau hai chính sách lá»›n. Cần tranh thá»§ các Ä‘iểm rÆ¡i cá»§a giá bông để mua nguyên liệu cho quý 3/2026.
  • Theo dõi sát giá sợi Ấn Độ từ tháng 6 đến tháng 10/2026: Cập nhật báo giá sợi từ Ấn Độ định kỳ để có chiến lược chào giá phù hợp, tránh mất đơn hàng xuất khẩu trong giai Ä‘oạn Ấn Độ được hưởng lợi từ miá»…n thuế.

7 1

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP (NĐ 169) quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, có hiệu lực từ 01/7/2026. So với Nghị định số 128/2020/NĐ-CP, NĐ 169 có một số điểm mới sau đây mà DN cần lưu ý:

  • Bổ sung định nghÄ©a về tang vật vi phạm hành chính (VPHC) “không bao gồm vật, tiền, hàng hóa đã khai báo hải quan đúng quy định pháp luật” (Điều 3.2);
  • Bổ sung thời hiệu xá»­ phạt VPHC do cÆ¡ quan tiến hành tố tụng chuyển đến theo quy định cá»§a Luật xá»­ lý VPHC được kéo dài thêm 01 năm, tức 06 năm vá»›i VPHC về quản lý thuế; 03 năm đối vá»›i VPHC khác trong lÄ©nh vá»±c hải quan (Điều 5.4);
  • Bổ sung 06 trường hợp không xá»­ phạt VPHC (Điều 7.2) đó là các trường hợp Ä‘ang thá»±c hiện khai bổ sung các vấn đề liên quan đến HQ và thá»±c hiện nghÄ©a vụ thuế theo hướng dẫn cá»§a HQ, cÆ¡ quan nhà nước khác.
  • Bổ sung thêm má»™t số hành vi vi phạm tại các Điều 8, 10, 12, 13, 16.
  • Bổ sung quy định về xá»­ phạt VPHC trên môi trường Ä‘iện tá»­ (Điều 37) nhằm cụ thể hóa chương trình chuyển đổi số quốc gia, nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và xá»­ lý VPHC.
  • Loại bỏ má»™t số quy định không còn phù hợp đã được quy định tại NĐ 128.

can bo thue co so 5 huong dan nguoi dan thu tuc ke khai va nop thue dien tu theo quy dinh moi tai bo phan mot cua

Chính phủ đẩy mạnh phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa một số thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh

Ngày 18/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.18/NQ-CP về phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh. Theo đó, kể từ ngày 01/7/2026, có một số nội dung DN cần lưu ý như sau:

  • Về phòng cháy, chữa cháy (PCCC):
    • Bãi bỏ thá»§ tục Kiểm tra công tác nghiệm thu về PCCC theo Ä‘iểm c khoản 5 Điều 18 Luật PCCC và CNCH năm 2024 và Điều 10 Nghị định 105/2025/NĐ-CP (công trình, phần công trình, hàng mục công trình, phương tiện giao thông đã được cÆ¡ quan công an thẩm định về PCCC);
    • Bãi bỏ thá»§ tục Nghiệm thu về PCCC đối vá»›i công trình, phương tiện giao thông đã được Công an cấp Giấy chứng nhận thẩm duyệt thiết kế nhưng chưa được chấp thuận kết quả nghiệm thu theo quy định tại Điều 46.3 NĐ 105;
    • Đơn giản hóa hồ sÆ¡ thẩm định thiết kế về PCCC theo Ä‘iểm a Điều 9.4, người đề nghị thẩm định không còn phải ná»™p văn bản thẩm định thiết kế về PCCC cá»§a chá»§ đầu tư, chá»§ sở hữu công trình.
  • Về an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ): Bãi bỏ trình tá»± xem xét, đánh giá Ä‘iều kiện hoạt động cá»§a DN tá»± huấn luyện ATVSLĐ theo Điều 29.2 Nghị định 44/2016/NĐ-CP;
  • Về lÄ©nh vá»±c kế toán: Không thá»±c hiện quy định về Ä‘iều kiện, thi, cấp và thu hồi chứng chỉ kế toán viên quy định tại 57 Luật Kế toán 2015 (sá»­a đổi, bổ sung năm 2025); những người có chứng chỉ kế toán viên trước ngày 01/3/2027 sẽ được dá»± thi để lấy chứng chỉ kiểm toán viên.
  • Về lÄ©nh vá»±c xây dá»±ng: Giảm thời gian giải quyết thá»§ tục cấp Giấy phép xây dá»±ng còn 10 ngày làm việc nếu nhận đủ hồ sÆ¡ hợp lệ, Ä‘iều chỉnh Giấy phép xây dá»±ng quy định còn 09 ngày làm việc nếu nhận đủ hồ sÆ¡ hợp lệ (theo tại Ä‘iểm e Điều 102.1 Luật Xây dá»±ng 2014 sá»­a đổi bởi Ä‘iểm b Điều 1.36 Luật Xây dá»±ng 2020 là 20 ngày).

Uu va nhuoc diem cua hop dong lao dong dien tu

Hướng dẫn chi tiết và thi hành quy định về hợp đồng lao động điện tử

Ngày 15/5/2026, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư 08/2026/TT-BNV (TT 08) để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 337/2025/NĐ-CP ngày 24/12/2025 về hợp đồng lao động (HĐLĐ) điện tử. Theo đó, từ ngày 01/7/2026, HĐLĐ điện tử được khuyến khích áp dụng thay thế cho HĐLĐ bằng văn bản để nâng cao hiệu quả quản trị nhân sự, đơn giản hóa các thủ tục hành chính. Cụ thể, khi sử dụng HĐLĐ điện tử DN cần lưu ý một số vấn đề sau:

  • NSDLĐ và NLĐ đăng ký tài khoản truy cập vào Nền tảng HĐLĐ Ä‘iện tá»­ bằng Hệ thống định danh và xác thá»±c Ä‘iện tá»­ quốc gia (VNeID): NLĐ sá»­ dụng VNeID cá nhân; NSDLĐ là tổ chức sá»­ dụng VNeID tổ chức;
  • Má»—i HĐLĐ Ä‘iện tá»­ được cấp 1 mã định danh (ID) duy nhất theo quy định tại Điều 5 TT 08 khi được gá»­i về nền tảng HĐLĐ Ä‘iện tá»­;
  • Nền tảng HĐLĐ Ä‘iện tá»­ cÅ©ng được sá»­ dụng để NSDLĐ báo cáo tình hình thay đổi về lao động theo quy định tại Điều 4.2 Nghị định 145/2020/NĐ-CP;
  • DN có thể sá»­ dụng nền tảng HĐLĐ Ä‘iện tá»­ để chuyển đổi từ HĐLĐ giấy sang HĐLĐ Ä‘iện tá»­;
  • HĐLĐ Ä‘iện tá»­, phụ lục kèm theo được lưu trữ trong 10 năm trên nền tảng HĐLĐ Ä‘iện tá»­ kể từ ngày HĐLĐ Ä‘iện tá»­ đó chấm dứt.

d17dde6dacf760f27eb28f6eccc263a4c1599f7f5bcdc AwmlmG

Cước vận tải biển tăng mạnh, doanh nghiệp dệt may cần tính lại chi phí logistics

Thị trường vận tải container quốc tế ghi nhận đợt tăng giá mạnh khi mùa cao điểm vận chuyển hàng hóa đến sớm hơn thường lệ. Theo Drewry World Container Index, giá cước container 40 feet tăng 23% trong một tuần, lên 3.433 USD/container. Tuyến Thượng Hải – Los Angeles tăng 31% lên 4.565 USD/container, trong khi tuyến Thượng Hải – New York tăng 20% lên 5.505 USD/container. Chỉ số SCFI cũng tăng 15,9%, phản ánh nhu cầu vận chuyển quốc tế phục hồi mạnh.

Động lực tăng giá đến từ nhu cầu giao hàng sớm trước khả năng Mỹ điều chỉnh chính sách thuế quan từ tháng 7/2026, nhu cầu nhập khẩu phục vụ FIFA World Cup 2026 và rủi ro địa chính trị tại Trung Đông khiến nhiều hãng tàu tiếp tục đi vòng qua châu Phi. Các đơn vị phân tích thị trường nhận định mặt bằng giá cước có thể tiếp tục duy trì ở mức cao ít nhất đến hết tháng 7/2026 do nhu cầu vận chuyển tăng nhanh trong khi năng lực vận tải chưa được cải thiện đáng kể.

Tác động & lưu ý:

– Doanh nghiệp xuất khẩu cần cập nhật lại chi phí logistics trong cÆ¡ cấu giá thành và kế hoạch giao hàng trong thời gian tá»›i.

– Cần rà soát Ä‘iều khoản vận chuyển, chá»§ động đặt chá»— sá»›m và tính toán đầy đủ biến động cước tàu nhằm tránh phát sinh chi phí vượt dá»± toán hoặc ảnh hưởng hiệu quả đơn hàng.

(Nguồn: Drewry World Container Index, Shanghai Containerized Freight Index – 05/06/2026)

 Bài viết được đăng trên Đặc san Dệt May và Thời trang số tháng 6/2026. Chi tiết tại đây!

]]>
Bangladesh cắt giảm gần 8.000 lao động do đơn hàng may mặc suy giảm /bangladesh-cat-giam-gan-8-000-lao-dong-do-don-hang-may-mac-suy-giam/ Tue, 16 Jun 2026 07:14:43 +0000 /?p=28768 Ngành may mặc Bangladesh đang đối mặt với nhiều khó khăn khi đơn hàng xuất khẩu tiếp tục suy giảm, kéo theo làn sóng cắt giảm lao động tại nhiều doanh nghiệp trong ngành.

03 8472

Theo số liệu của Cục Xúc tiến Xuất khẩu Bangladesh (EPB), trong giai đoạn từ tháng 7/2025 đến tháng 5/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của nước này đạt 35,3 tỷ USD, giảm 3,41% so với mức 36,6 tỷ USD cùng kỳ năm trước.

Tại cuộc họp khẩn gần đây, Hiệp hội Các nhà sản xuất và Xuất khẩu May mặc Bangladesh (BGMEA) cho biết tình trạng suy giảm đơn hàng đã kéo dài khoảng một năm và chưa có dấu hiệu cải thiện rõ rệt. Ngoài áp lực thuế quan, ngành may mặc Bangladesh còn chịu tác động từ căng thẳng địa chính trị, các rủi ro an ninh tại khu vực Biển Đỏ và Vịnh Ba Tư làm kéo dài thời gian giao hàng, cũng như sự cạnh tranh ngày càng gia tăng từ các hiệp định thương mại mới của Ấn Độ với EU và Vương quốc Anh.

Bên cạnh đó, Bangladesh đang chuẩn bị chuyển khỏi nhóm quốc gia kém phát triển nhất (LDC), khiến nhiều ưu đãi thương mại và thuế quan hiện có có thể bị thu hẹp trong những năm tới, tạo thêm áp lực đối với năng lực cạnh tranh của ngành dệt may.

Theo số liệu của Cảnh sát Công nghiệp Bangladesh (Industrial Police), trong 5 tháng đầu năm 2026 đã có ít nhất 79 nhà máy cắt giảm khoảng 7.784 lao động. Khu vực Ashulia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với khoảng 5.000 lao động bị cắt giảm tại 35 nhà máy, tiếp theo là Gazipur với 1.946 lao động tại 33 nhà máy.

Đáng chú ý, Al-Muslim Group tại Savar đã cho thôi việc gần 1.900 lao động tại 7 nhà máy may do thiếu đơn hàng. Doanh nghiệp cho biết sẽ xem xét tuyển dụng trở lại nếu đơn hàng phục hồi trong thời gian tới.

Diễn biến này cho thấy ngành dệt may Bangladesh đang chịu áp lực cạnh tranh ngày càng lớn trong bối cảnh nhu cầu thị trường còn yếu, môi trường thương mại quốc tế biến động và các lợi thế ưu đãi truyền thống đang dần thu hẹp.

Nguồn: Sourcing Journal

]]>
Luật chơi mới của thời trang toàn cầu và bài toán tái định vị của Dệt May Việt Nam /luat-choi-moi-cua-thoi-trang-toan-cau-va-bai-toan-tai-dinh-vi-cua-det-may-viet-nam/ Tue, 16 Jun 2026 03:10:02 +0000 /?p=28676 Bước vào năm 2026, ngành thời trang toàn cầu không còn vận hành theo quán tính tăng trưởng bằng mọi giá. Các thương hiệu đang chuyển sang một trạng thái mới: ưu tiên hiệu quả, kỷ luật vốn lưu động và khả năng thích ứng nhanh trước biến động địa chính trị, thương mại. Báo cáo The State of Fashion (BoF–McKinsey) chỉ ra rằng rào cản thương mại đang gia tăng mạnh, kéo theo biến số thuế quan và chi phí vận chuyển tác động trực tiếp đến quyết định giá bán, cơ cấu nguồn cung và mức độ chia sẻ rủi ro trong chuỗi giá trị.

Trong bối cảnh đó, Dệt May Việt Nam, một mắt xích quan trọng của chuỗi cung ứng toàn cầu, cần nhận diện lại những tín hiệu thị trường không chỉ để đón đơn hàng, mà để tái định vị năng lực cạnh tranh theo hướng bền vững. Dưới đây là bốn dịch chuyển lớn đáng chú ý trong năm 2026 và có thể kéo dài nhiều năm: (1) tiêu dùng lấy “giá trị” làm trung tâm; (2) quản trị tồn kho trở thành lợi thế cạnh tranh; (3) dòng chảy thương mại và đơn hàng được điều chỉnh dưới sức ép thuế quan, rào cản và xu hướng dịch chuyển sản xuất nearshoring; (4) trải nghiệm mua sắm được AI tái cấu trúc.

ai changing fashion design 1280x720 1

Người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu nhưng không dừng mua: giá trị là chuẩn mới

Sau một giai đoạn lạm phát kéo dài, người tiêu dùng có xu hướng duy trì thói quen chi tiêu tiết kiệm, thay vì nhanh chóng quay lại nhịp mua sắm như trước. Khảo sát người tiêu dùng hồi tháng 11/2025 trong The State of Fashion cho thấy hơn 80% dự kiến giữ nguyên hoặc cắt giảm chi tiêu cho quần áo, giày dép, phụ kiện trong năm tới. Đáng chú ý, ngay cả khi thu nhập khả dụng cải thiện, hơn 70% vẫn cho biết sẽ tiếp tục xu hướng “mua xuống phân khúc”, chuyển sang lựa chọn sản phẩm ở mức giá thấp hơn hoặc giảm giá trị trung bình của giỏ hàng.

Khái niệm “giá trị” vì thế không chỉ đồng nghĩa với rẻ hơn, mà là cảm giác đáng tiền theo nhiều cách: săn khuyến mại, mua tại các kênh bán giá ưu đãi, ưu tiên nhãn hàng riêng của hệ thống bán lẻ, hoặc tham gia mua hàng đã qua sử dụng. Một số con số đáng lưu ý: 75% người tiêu dùng cho biết sẽ tiếp tục mua tại các kênh bán giá ưu đãi; 72% sẽ chờ đến khi có khuyến mại và 61% cho biết đã từng mua hoặc bán sản phẩm đã qua sử dụng trong 12 tháng qua.

anh bai 42

Xu hướng tiêu dùng tiết kiệm thông minh đang hình thành một hệ sinh thái tiêu dùng mới, nơi các dịch vụ như mua bán lại, cho thuê, sửa chữa, tái chế/tái tạo sản phẩm phát triển nhanh hơn. Đồng thời, nó buộc các thương hiệu phải tối ưu tương quan giá và chất lượng, minh bạch thông tin sản phẩm và kể câu chuyện thương hiệu theo hướng thực chất, đo đếm được, thay vì chỉ dựa vào cảm xúc.

Với doanh nghiệp Dệt May Việt Nam, xu hướng này chuyển hóa thành yêu cầu rất cụ thể từ khách hàng: đơn hàng nhỏ hơn nhưng đa dạng hơn, tốc độ phát triển mẫu nhanh hơn, giá cạnh tranh hơn, trong khi vẫn phải bảo đảm chất lượng ổn định, giao hàng đúng hạn và tuân thủ đầy đủ các quy định của thị trường. Xu hướng “mua thông minh” khiến nhu cầu biến động mạnh theo khuyến mại, theo thời tiết và theo nhịp ra hàng của từng kênh bán. Khi người mua sẵn sàng chờ giảm giá, tồn kho lập tức trở thành áp lực lớn nhất lên biên lợi nhuận và đó là lý do các thương hiệu buộc phải siết kỷ luật tồn kho.

Từ “Tăng trưởng nóng” đến “Hiệu quả thực”: Khi tồn kho là thước đo sinh tồn

Trong kỷ nguyên mới, ngành thời trang đang chứng kiến một cuộc chuyển dịch tư duy mạnh mẽ. Thay vì theo đuổi tăng trưởng bằng mọi giá, nhiều doanh nghiệp chuyển trọng tâm sang hiệu quả vận hành và lợi nhuận thực chất. Khi tâm lý khách hàng phân hóa, các thương hiệu buộc phải rà soát chuỗi cung ứng và siết quản trị tồn kho để tránh lợi nhuận bị bào mòn bởi các đợt giảm giá kéo dài.

Sự thay đổi này xuất phát từ một thực trạng đáng báo động. Theo báo cáo The State of Fashion, chỉ riêng năm 2023, ngành thời trang đã tạo ra khoảng 2,5–5 tỷ sản phẩm dư thừa, gây lãng phí từ 70–140 tỷ USD doanh thu tiềm năng. Áp lực này càng đè nặng khi tỷ lệ hàng giảm giá trong nửa đầu năm 2024 đã tăng thêm 5% so với cùng kỳ. Đây không đơn thuần là lỗi dự báo của một vài cá nhân, mà là hệ quả từ sự cộng hưởng của nhiều yếu tố: vòng đời xu hướng bị rút ngắn, thời tiết khó lường do biến đổi khí hậu và sự phức tạp của các kênh bán hàng đa trải nghiệm.

Đặc biệt, khi người tiêu dùng ngày càng săn giá tốt và ưu tiên mua ở các kênh bán giá ưu đãi, các nhãn hàng buộc phải coi tồn kho là “điểm rơi” của lợi nhuận. Tồn kho lúc này không chỉ là hàng nằm trong kho, mà là tổng của chi phí vốn, chi phí giảm giá và rủi ro uy tín thương hiệu. Vì vậy, chỉ cần thương mại biến động và chu kỳ xu hướng rút ngắn, tồn kho sẽ phình ra rất nhanh và lợi nhuận bị bào mòn trước tiên. Và khi tồn kho trở thành “điểm rơi lợi nhuận”, tốc độ đáp ứng đơn hàng không còn là lợi thế vận hành mà đã thành bài toán chi phí và dòng tiền. Chính áp lực giảm tồn kho và rút ngắn thời gian giao hàng đang thúc đẩy làn sóng dịch chuyển sản xuất về gần thị trường tiêu thụ tăng tốc.

Tái cấu trúc thương mại năm 2026: Nearshoring tăng tốc và “thế gọng kìm” đối với Dệt May Việt Nam

Bản đồ thương mại thời trang thế giới đang được vẽ lại theo cấu trúc đa cực, nơi sự đa dạng hóa tại châu Á diễn ra song song với làn sóng nearshoring. Các quốc gia như Ấn Độ, Việt Nam và Bangladesh tiếp tục được kỳ vọng là những trung tâm cung ứng trọng điểm cho thị trường Mỹ và châu Âu. Tuy nhiên, một thực tế không thể phủ nhận là nearshoring đang chuyển mình từ một xu hướng mang tính chính trị sang một bài toán tài chính chiến lược nhằm tối ưu hóa biên lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro tồn kho.

Cuá»™c chiến tốc độ và ưu thế cá»§a các khu vá»±c cận biên: Dữ liệu từ Báo cáo The State of Fashion cho thấy những con số áp đảo về khả năng cạnh tranh cá»§a các khu vá»±c nearshoring. Tuyến vận tải Mexico – Mỹ chỉ mất 5–10 ngày vá»›i chi phí khoảng 5.000 USD/công-ten-nÆ¡, trong khi từ Trung Quốc phải mất tá»›i 60 ngày vá»›i chi phí lên đến 18.000 USD. Tương tá»±, Thổ NhÄ© Kỳ đã khẳng định vị thế là “Ä‘iểm gần” lý tưởng cá»§a châu Âu khi rút ngắn thời gian từ lúc đặt hàng đến khi hoàn tất xuống dưới 50 ngày, so vá»›i mức 150–170 ngày tại khu vá»±c châu Á – Thái Bình Dương. Nearshoring có thể mang lại thời gian sản xuất nhanh hÆ¡n từ 3–5 lần, giúp các nhãn hàng phản ứng thần tốc vá»›i xu hướng và giảm đáng kể lượng hàng dư thừa.

Trong bối cảnh đó, Dệt May Việt Nam đang đứng giữa hai lực kéo đầy thách thức:

  • Lá»±c kéo 1: Duy trì vị thế là trụ cá»™t công suất tại châu Á. Việt Nam vẫn nằm trong nhóm thị trường tăng trưởng vá»›i lợi thế chi phí nhân công chưa tá»›i má»™t ná»­a so vá»›i Trung Quốc.
  • Lá»±c kéo 2: Sá»± cạnh tranh trá»±c tiếp từ nearshoring trong việc thu hút các đơn hàng cần tốc độ cá»±c nhanh, đặc biệt là nhóm sản phẩm có khả năng thá»­ nhanh và Ä‘iều chỉnh nhanh theo diá»…n biến thị trường hoặc hàng mùa vụ gấp.

Trong cuộc đua tốc độ đó, dữ liệu và AI trở thành “đòn bẩy” để nhà máy rút ngắn vòng duyệt mẫu, đổi mã nhanh và phối hợp kế hoạch với khách hàng sát hơn.

0 w8NpGptCcSB3d7P5

Trợ lý mua sắm bằng AI và cuộc đua chuẩn hóa dữ liệu sản phẩm: doanh nghiệp nào được ưu tiên hiển thị sẽ thắng

Nếu đầu năm 2025, AI vẫn thường xuất hiện dưới dạng các dự án thử nghiệm thì hiện tại, nó đã trở thành năng lực vận hành cốt lõi, một điều kiện bắt buộc để doanh nghiệp tồn tại trong bối cảnh chi phí đầu vào biến động và tăng trưởng chậm. AI không chỉ thúc đẩy việc sắp xếp lại lực lượng lao động theo hướng lấy AI làm công cụ chủ đạo, giúp tự động hóa nhiều công việc lặp lại để con người tập trung vào những phần việc cần tư duy và sáng tạo, mà còn đang tái định hình toàn bộ hành trình khách hàng từ tìm kiếm, so sánh đến quyết định mua sắm.

Trên thị trường tiêu dùng, khái niệm “Trợ lý mua sắm bằng AI” đang làm thay đổi cách các thương hiệu được tiếp cận. Đây là các tác nhân trí tuệ nhân tạo có thể tự động theo dõi giá, so sánh ưu đãi và thậm chí thực hiện giao dịch thay cho con người. Trong bối cảnh khách hàng bị quá tải lựa chọn (74% người dùng từng từ bỏ ý định mua sắm trực tuyến vì quá nhiều thông tin), AI trở thành bộ lọc cá nhân hóa hiệu quả: thay vì người dùng tự tìm kiếm, hệ thống sẽ chủ động theo dõi biến động giá, đánh giá ưu đãi và đề xuất mua theo sở thích và xu hướng đã học. Để được các “trợ lý mua sắm bằng AI” nhìn thấy và ưu tiên gợi ý, thương hiệu buộc phải nâng cấp hạ tầng dữ liệu. Nội dung không còn dừng ở từ khóa, mà cần được chuẩn hóa thành dữ liệu giàu ý nghĩa, có thể kết nối và truy cập thông suốt để các mô hình AI phân tích và đưa ra khuyến nghị chính xác.

Tại các quốc gia sản xuất như Việt Nam, AI đang thẩm thấu vào chuỗi cung ứng qua ba lộ trình rõ nét:

(1) Tăng tốc chu kỳ sản phẩm: Năng lực cạnh tranh không chỉ là “làm đúng thông số kỹ thuật”, mà là rút ngắn vòng duyệt mẫu và chuẩn hóa dữ liệu kỹ thuật để nhãn hàng quyết nhanh, chốt nhanh, đưa hàng ra thị trường một cách nhanh nhất.

(2) Thích ứng với đơn hàng phân mảnh: Khi cá nhân hóa mạnh hơn, đơn hàng có xu hướng nhỏ hơn nhưng đa dạng hơn. Hệ quả là nhãn hàng sẽ ưu tiên những nhà cung ứng có thể đổi mã nhanh, giữ ổn định chất lượng, và giao đúng hạn trong điều kiện biến động.

(3) Tối ưu dữ liệu sản phẩm cho tìm kiếm bằng AI: Nhà cung ứng hiện nay phải chuẩn hóa toàn bộ dữ liệu từ nguyên liệu đến quy trình để có thể kết nối đồng bộ với hệ thống thông minh của các nhãn hàng toàn cầu.

Năm 2026, đơn hàng không chỉ chạy theo giá mà chạy theo tốc độ, sự ổn định và độ tin cậy. Thuế quan và rào cản thương mại khiến dòng đơn hàng dịch chuyển nhanh; cạnh tranh từ các khu vực sản xuất gần thị trường tiêu thụ làm yêu cầu giao nhanh khắt khe hơn; nếu kế hoạch không sát, tồn kho và giảm giá sẽ bào mòn lợi nhuận. Bên cạnh đó, AI đang khiến khách hàng đòi hỏi dữ liệu rõ ràng, từ thông số sản phẩm đến tiến độ và truy xuất.

Với Dệt May Việt Nam, thông điệp cho 2026 rất thực tế: rút ngắn thời gian thực hiện đơn hàng, làm tốt đơn nhỏ, nhiều mã, và minh bạch dữ liệu để phối hợp kế hoạch với khách hàng. Làm được ba việc này, cộng với kỷ luật chất lượng và tuân thủ, doanh nghiệp sẽ giữ được “chữ tín” để khách hàng tin tưởng đặt đơn dài hạn trong giai đoạn biến động.

Bài viết được đăng trên Đặc san Dệt May và Thời trang số tháng 3/2026. Chi tiết tại đây!

]]>
Logistics và chuá»—i cung ứng ngành dệt may trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu /logistics-va-chuoi-cung-ung-nganh-det-may-trong-boi-canh-bien-dong-dia-chinh-tri-toan-cau/ Thu, 11 Jun 2026 08:22:13 +0000 /?p=28682 Biến động địa chính trị, chuyển dịch chuá»—i cung ứng và yêu cầu chuyển đổi xanh Ä‘ang làm thay đổi sâu sắc hệ thống logistics toàn cầu. Những gián Ä‘oạn tại các tuyến vận tải chiến lược như Biển Đỏ hay kênh đào Suez không chỉ kéo dài thời gian vận chuyển mà còn góp phần đẩy chi phí logistics tăng cao. Trong bối cảnh đó, ngành dệt may – lÄ©nh vá»±c phụ thuá»™c lá»›n vào vận tải quốc tế, Ä‘ang chịu tác động rõ rệt. Đối vá»›i Việt Nam, má»™t trong những quốc gia xuất khẩu hàng may mặc lá»›n cá»§a thế giá»›i, sá»± bất ổn cá»§a chuá»—i vận tải quốc tế đặt ra nhiều thách thức má»›i đối vá»›i hoạt động sản xuất và xuất khẩu.

vecteezy global business logistics import export of containers cargo 21660302 scaled e1781160626265

Tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu trong bối cảnh mới

Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, logistics đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm sá»± vận hành thông suốt cá»§a các chuá»—i cung ứng quốc tế. Hoạt động sản xuất và thương mại ngày càng phụ thuá»™c vào mạng lưới vận tải Ä‘a phương thức, bao gồm đường biển, đường bá»™, đường sắt cùng hệ thống kho bãi và phân phối. Bước sang giai Ä‘oạn 2024 – 2026, hệ thống logistics quốc tế Ä‘ang đứng trước nhiều biến động khi các yếu tố kinh tế, công nghệ và địa chính trị đồng thời tác động đến các tuyến vận tải cÅ©ng như dòng chảy hàng hóa trên phạm vi toàn cầu.

Một trong những xu hướng đáng chú ý là sự tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Sau các cú sốc như đại dịch COVID-19 và căng thẳng thương mại quốc tế, nhiều doanh nghiệp đã tìm cách đa dạng hóa địa điểm sản xuất nhằm giảm phụ thuộc vào một quốc gia duy nhất. Hai chiến lược thường được nhắc đến là “China+1” và “friendshoring”. Trong đó, “China+1” là việc doanh nghiệp vẫn duy trì sản xuất tại Trung Quốc nhưng đồng thời mở rộng thêm cơ sở sản xuất tại các quốc gia khác để giảm rủi ro; còn “friendshoring” là xu hướng chuyển chuỗi cung ứng sang các quốc gia được xem là đối tác kinh tế và chính trị đáng tin cậy.

Bên cạnh sự dịch chuyển sản xuất, rủi ro địa chính trị cũng đang trở thành yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hệ thống logistics toàn cầu. Các tuyến vận tải chiến lược như kênh đào Suez, eo biển Hormuz và khu vực Biển Đỏ đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối thương mại giữa châu Á, châu Âu và Trung Đông. Khi tình hình khu vực tại các điểm trung chuyển này trở nên phức tạp hoặc tiềm ẩn rủi ro an ninh, các hãng tàu thường phải điều chỉnh tuyến vận tải hoặc áp dụng các biện pháp phòng ngừa bổ sung, từ đó làm tăng chi phí và kéo dài thời gian vận chuyển.

Logistics Reply Main Image iStock 1264616370 Main

Ngoài yếu tố địa chính trị, ngành logistics toàn cầu cũng đang chịu tác động mạnh từ quá trình chuyển đổi số. Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain và Internet vạn vật (IoT) đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi nhằm tối ưu hóa hoạt động logistics. Chẳng hạn, AI được sử dụng để dự báo nhu cầu vận tải và tối ưu hóa tuyến đường vận chuyển; blockchain giúp minh bạch hóa chứng từ và thông tin trong chuỗi cung ứng; trong khi IoT cho phép theo dõi vị trí và tình trạng hàng hóa theo thời gian thực thông qua các cảm biến gắn trên container và phương tiện vận tải.

Song song với chuyển đổi số, yêu cầu về phát triển bền vững cũng đang định hình lại chuỗi cung ứng toàn cầu. Các thị trường lớn như Liên minh châu Âu và Bắc Mỹ ngày càng đặt ra các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt đối với hàng hóa và toàn bộ chuỗi cung ứng. Những yêu cầu này bao gồm giảm phát thải carbon trong vận tải, minh bạch hóa nguồn gốc nguyên liệu và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường trong quá trình sản xuất. Điều này buộc các doanh nghiệp logistics và sản xuất phải đầu tư vào các giải pháp vận tải xanh và tối ưu hóa hoạt động vận chuyển.

Trong bối cảnh đó, ngành dệt may là một trong những lĩnh vực chịu tác động rõ rệt nhất từ sự biến động của hệ thống logistics. Chuỗi cung ứng may mặc thường trải dài qua nhiều quốc gia và bao gồm nhiều công đoạn như sản xuất sợi, dệt vải, gia công sản phẩm và phân phối tới các thị trường tiêu thụ. Nguyên liệu có thể được sản xuất ở một quốc gia, sau đó vận chuyển đến quốc gia khác để gia công và cuối cùng xuất khẩu sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ hoặc châu Âu. Do phụ thuộc lớn vào vận tải quốc tế, bất kỳ sự gián đoạn nào trong hệ thống logistics đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ sản xuất và giao hàng.

Bên cạnh đó, đặc thù của lĩnh vực may mặc là vòng đời sản phẩm ngắn và tính mùa vụ cao. Các doanh nghiệp thời trang thường phải đưa sản phẩm ra thị trường đúng thời điểm theo mùa bán hàng. Vì vậy, chỉ cần chuỗi logistics bị chậm trễ trong một khoảng thời gian ngắn cũng có thể khiến sản phẩm bỏ lỡ mùa tiêu thụ, làm giảm đáng kể giá trị thương mại của hàng hóa. Chính vì vậy, sự ổn định và hiệu quả của hệ thống logistics đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động của lĩnh vực này.

rsz 4 essential packaging supply chain solutions for manufacturers

Chuỗi vận tải quốc tế bất ổn, dệt may Việt Nam đối mặt thách thức

Việt Nam hiện là má»™t trong những quốc gia xuất khẩu hàng may mặc lá»›n trên thế giá»›i. Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tại khu vá»±c Trung Đông gia tăng, hoạt động vận tải quốc tế Ä‘ang đối mặt vá»›i nhiều rá»§i ro và gián Ä‘oạn. Eo biển Hormuz – tuyến hàng hải huyết mạch trung chuyển hÆ¡n 20 triệu thùng dầu má»—i ngày, giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối vá»›i thương mại và năng lượng toàn cầu. Khi tình hình an ninh tại khu vá»±c này trở nên nhạy cảm, các hãng tàu buá»™c phải tăng cường biện pháp phòng ngừa và Ä‘iều chỉnh lá»™ trình vận chuyển. Đồng thời, sá»± bất ổn tại khu vá»±c Biển Đỏ cÅ©ng khiến tuyến vận tải qua kênh đào Suez – hành lang thương mại quan trọng nối châu Á vá»›i châu Âu – trở nên kém ổn định hÆ¡n. Trong má»™t số trường hợp, tàu vận tải phải lá»±a chọn hải trình dài hÆ¡n, Ä‘i vòng qua MÅ©i Hảo Vọng ở Nam Phi thay vì qua kênh đào Suez như thông thường. Việc thay đổi tuyến đường này có thể kéo dài thời gian vận chuyển thêm khoảng 10 – 14 ngày, đồng thời làm gia tăng đáng kể chi phí logistics đối vá»›i các doanh nghiệp xuất khẩu cá»§a Việt Nam.

Má»™t yếu tố quan trọng khiến chi phí vận tải tăng mạnh là phụ phí bảo hiểm chiến tranh. Khi các tuyến vận tải Ä‘i qua khu vá»±c có nguy cÆ¡ bất ổn, các công ty bảo hiểm thường áp dụng mức phí rá»§i ro cao hÆ¡n đối vá»›i tàu và hàng hóa. Điều này khiến chi phí logistics đối vá»›i các đơn hàng xuất khẩu sang khu vá»±c Trung Đông hiện chiếm khoảng 10 – 20% giá thành sản phẩm và có thể tăng lên 15 – 25% nếu tình hình căng thẳng kéo dài.

Bên cạnh tác động trực tiếp tới vận tải, biến động địa chính trị tại Trung Đông còn ảnh hưởng đến thị trường năng lượng toàn cầu. Đây là khu vực sản xuất và xuất khẩu dầu thô lớn của thế giới, do đó bất kỳ gián đoạn nào cũng có thể khiến giá dầu biến động mạnh. Lưu lượng tàu chở dầu qua eo biển Hormuz đã sụt giảm tới khoảng 90% kể từ khi Mỹ và Israel tiến hành chiến dịch quân sự nhằm vào Iran, làm gia tăng lo ngại về nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu. Khi giá dầu tăng, chi phí nhiên liệu cho vận tải biển và các hoạt động logistics khác cũng tăng theo.

Không chỉ dừng lại ở chi phí năng lượng, sá»± biến động cá»§a dầu thô còn ảnh hưởng đến giá nguyên liệu đầu vào trong quá trình sản xuất các sản phẩm hóa dầu – sợi polyester, đồng thời tác động lan toả tá»›i giá bông. Vì vậy, khi giá dầu tăng, chi phí sản xuất này cÅ©ng có xu hướng tăng theo, từ đó làm gia tăng chi phí nguyên liệu cho các doanh nghiệp sản xuất vải và may mặc.

Đối vá»›i các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu, áp lá»±c càng trở nên rõ rệt do đặc thù vòng đời sản phẩm ngắn và tính mùa vụ cao. Trong các giai Ä‘oạn bất ổn trước đây, thời gian vận chuyển từng tăng từ khoảng 1 tháng lên tá»›i 3 – 4 tháng, trong khi cước container 40 feet có thời Ä‘iểm tăng từ khoảng 1.500 USD lên hÆ¡n 5.000 USD. Tuy nhiên, sá»± bất lợi không chỉ dừng ở sá»± gia tăng chi phí vận tải mà còn là nguy cÆ¡ đứt gãy hoạt động kinh doanh vá»›i khách hàng. Chỉ cần hàng hóa giao chậm khoảng 15–20 ngày có thể khiến sản phẩm bỏ lỡ mùa bán hàng, thậm chí doanh nghiệp đứng trước nguy cÆ¡ mất trắng toàn bá»™ đơn hàng nếu thời gian vận chuyển kéo dài tá»›i vài tháng.

Warehouse

Giải pháp giảm thiểu rủi ro trong bối cảnh mới

Trước những biến động của hệ thống logistics toàn cầu, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động triển khai nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro và đảm bảo sự ổn định của hoạt động thương mại.

Trong lĩnh vực hàng hải, các cơ quan chức năng đã yêu cầu các tàu treo cờ Việt Nam hoạt động tại khu vực Trung Đông duy trì hệ thống nhận dạng tự động AIS liên tục và theo dõi sát các cảnh báo về an ninh đường biển. Đồng thời, các doanh nghiệp vận tải biển cũng được khuyến nghị chủ động điều chỉnh hải trình khi cần thiết nhằm đảm bảo an toàn cho con người, tàu và hàng hóa.

Đối với cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu, việc điều chỉnh phương án vận chuyển phù hợp với tình hình thực tế là bước đi cần thiết để giảm thiểu rủi ro trong bối cảnh các tuyến vận tải truyền thống có thể bị gián đoạn, tuy nhiên điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện hợp đồng. Vì vậy, cùng với việc điều chỉnh kế hoạch logistics, doanh nghiệp cũng cần chủ động trao đổi và đàm phán lại với đối tác, khách hàng nhằm cập nhật tình hình vận chuyển và điều chỉnh các điều khoản giao hàng khi cần thiết.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần rà soát lại các hợp đồng thương mại, điều khoản thanh toán, bảo hiểm và điều kiện giao hàng để hạn chế các rủi ro pháp lý có thể phát sinh từ sự gián đoạn chuỗi cung ứng. Đồng thời, việc đa dạng hóa đối tác và thị trường xuất khẩu cũng là một giải pháp quan trọng nhằm giảm sự phụ thuộc vào một tuyến vận tải hoặc một thị trường cụ thể.

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang đối mặt với nhiều biến động, việc nâng cao năng lực logistics và xây dựng các kịch bản ứng phó linh hoạt sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định sức chống chịu của doanh nghiệp và đảm bảo sự ổn định của hoạt động thương mại quốc tế. Đối với ngành Dệt May Việt Nam, điều này không chỉ giúp giảm thiểu tác động từ các cú sốc bên ngoài mà còn góp phần củng cố vị thế của ngành trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Bài viết được đăng trên Đặc san Dệt May và Thời trang số tháng 3/2026. Chi tiết tại đây!

]]>